|
Jul
26
|
Tạo DAGs trong Exchange 2010 sử dụng EMS
Database Availability Groups (DAGs) là một tính năng mới trong Exchange 2010. DAGs giúp bạn nâng cao tính sẵn sàng của hệ thống mail server trong trường hợp gặp sự cố. Để chạy hệ thống theo mô hình DAGs bạn cần ít nhất hai máy chủ Mailbox, DAGs hỗ trợ đối đa 16 máy chủ Mailbox. DAGs thường chạy kèm với CAS array, khi một máy chủ gặp sự cố không hoạt động được thì hệ thống sẽ tự động kích hoạt Mailbox database copy ở server khác; như vậy bạn sẽ có một hệ thống hoàn hảo, có thể ứng phó với bất kỳ tình huống nào.
Yêu cầu hệ thống:
- DAGs có thể chạy trên Exchange 2010 Standard hoặc Enterprise. Các máy chủ trong DAGs phải chạy cùng một phiên bản Exchange.
- DAGs chỉ có thể chạy trên hệ điều hành Enterprise. Vì DAGs sử dụng Windows Failover Clustering nên máy chủ của bạn phải cài đặt Windown server 2008 Enterprise hoặc Windown server 2008 R2 Enterprise.
- Mỗi máy chủ trong DAGs tốt nhất nên có hai NIC (hai card mạng). Tối nhất là dùng Gigabit Ethernet NICs để đạt hiệu quả cao.
- Cấu hình mạng trên mỗi máy chủ thành viên DAGs phải giống nhau hoàn toàn.
- File Share Witness (FSW) có thể đặt ở một máy chủ bất kỳ trong hệ thống Domain của bạn. Nếu FSW không được cài trên một máy chủ Exchange thì bạn phải phải đảm bảo Exchange Trusted Subsystem có trong Administrators group (local) (Phân cho Administrator local của máy cài FSW thuộc group Exchange Trusted Subsystem)
- Mỗi một DAG cần một địa chỉ IP xác định. Nếu bạn không đặt IP tĩnh cho DAG thì nó sẽ xin IP từ DHCP của bạn. Nhưng tôi khuyên bạn là hãy đặt IP cho DAG, như vậy bạn dễ quản lý hơn.
Lab Cài đặt
Ở bài này tôi dùng 5 máy chủ. Một máy chủ làm DC, hai máy chủ cài HUB/CAS, hai máy chủ cài Mailbox. Thiết lập cấu hình mạng cho máy chủ Mailbox như sau:
Server Names: MB1, MB2
MAPI Network: 172.16.23.0/24
Replication Network: 10.1.1.0/24
Tạo DAG
Điều đầu tiên chúng ta cần làm là tạo các DAG. Để làm điều này, chúng ta sử dụng lệnh New-DatabaseAvailabilityGroup, chỉ định tên của DAG, tên của witness server, đường dẫn đến thư mục witness trên witness server và địa chỉ IP của DAG:
New-DatabaseAvailabilityGroup -Name DAG -WitnessServer HC1 -WitnessDirectory C:FSW -DatabaseAvailabilityGroupIPAddresses 172.16.23.100
Như bạn thấy witness server tôi đặt tại máy chủ HC1 (đây là máy chủ HUB/CAS) và thư mục witness là FSW (sẽ được tạo tự động trong ổ C của máy HC1), địa chỉ IP của DAG là 172.16.23.100
Thêm Mailbox server vào DAG
Ngay bây giờ ta sẽ thêm các Mailbox server MB1 và MB2 vào DAG bằng cách sử dụng lệnh Add-DatabaseAvailabilityGroupServer
Add-DatabaseAvailabilityGroupServer -Identity DAG -MailboxServer MB1
Sau khi add xong MB1, ta tiếp tục add MB2.
Add-DatabaseAvailabilityGroupServer -Identity DAG -MailboxServer MB2
Tạo Mailbox Database Copies
Bước cuối cùng là tạo một bản sao cho Mailbox database. Hiện tại chúng ta đang có một Mailbox DB tên là DAGDB1 trên MB1, ta sẽ tạo một bản sao cho nó trên Mb2 bằng cách dùng lệnh Add-MailboxDatabaseCopy thực hiện copy.
Add-MailboxDatabaseCopy -Identity DAGDB1 -MailboxServer MB2 -ActivationPreference 2
Công việc của chúng ta đã hoàn thành.
Quản lý DAG Network Replication
Bạn có thể kiểm tra xem hệ thống có làm việc tốt hay không bằng cách thực hiện lệnh sau: Get-DatabaseAvailabilityGroupNetwork
Lượt xem: 276







